Opal Sô cô la ( Chocolate Opal)

Đá opal nổi tiếng với dải màu đa dạng, từ xanh lam đậm, đỏ rực rỡ cho đến đen tuyền. Tất cả các màu nền này đều bắt nguồn từ sự hiện diện của các tạp chất khoáng vật kích thước nano hoặc các nguyên tố hóa học tích hợp trực tiếp vào cấu trúc silica vô định hình.

Figure 1. A 37.93 ct chocolate common opal (left) and its 4.05 ct detached fragment (bottom) next to a piece of a chocolate bar (right). Photo by Towfiq Ahmed.

Ảnh: Viên Opal màu Sô cô la đến từ Ethiopia

Trong những viên Opal nguồn gốc Ethoipia đó xuất hiện một viên Opan màu nâu sẫm nhìn giống như sô cô la, nổi bật trong những mẫu Opal đi cùng. Có cân nặng 37,93 ct cùng một mảnh nhỏ tách rời nặng 4,05 ct. Bề mặt vết vỡ dạng vỏ sò của cả hai mảnh đều có độ bóng cao, màu nền đồng nhất xuyên suốt toàn bộ khối đá ngả sang sắc đỏ ở những phần mỏng hơn kèm theo sự biến đổi nhẹ trên bề mặt và một số vùng cục bộ có màu nâu nhạt hơn. Các thông số tỉ trọng là 2.00 và chiết suất là 1.46; đặc trưng của đá Opal.

Phân tích chuyên sâu hơn, sử dụng phương pháp quang phổ Raman và phương pháp khối phổ plasma cảm ứng cao tần kết hợp cắt đốt bằng laser (LA-ICP-MS). Khi sử dụng tia laser kích thích bước sóng 830 nm, các đỉnh phổ Raman tại vị trí 340 và 780 cm⁻¹ đã xác nhận mẫu vật thuộc loại opal-CT. Quan sát thấy các đỉnh phổ Raman mờ nhạt liên quan đến oxit sắt. Khi chuyển sang sử dụng tia laser bước sóng 514 nm, tín hiệu của opal bị triệt tiêu gần như hoàn toàn, qua đó làm nổi bật tín hiệu của oxit sắt; các thành phần này được xác định là hematit (Fe₂O₃).

Phân tích thành phần hóa học của mẫu vật có màu nâu sô-cô-la này cho thấy các nguyên tố chính (silic, oxy và nước) cũng như các nguyên tố phụ chủ yếu (natri, magiê, nhôm và canxi) nằm trong phạm vi giá trị điển hình về đặc điểm hóa học của opal Ethiopia. Tuy nhiên, một số nguyên tố vết như sắt, titan, mangan, kẽm, niobi, chì và thori lại có hàm lượng cao hơn so với đa số các mẫu opal Ethiopia khác. Ngoài ra, mẫu vật còn cho thấy sự gia tăng đáng kể về hàm lượng các nguyên tố đất hiếm (REE), đi kèm với dị thường dương của ceri rất rõ rệt và khác thường. Song hành với sự bất thường dương về ceri, viên opal màu sô-cô-la này cũng có hàm lượng europi cao hơn so với các mẫu opal Ethiopia thông thường.

Mẫu vật này trở nên nổi bật so với tất cả các loại opal khác từ Ethiopia cũng như trên thế giới, không chỉ nhờ màu nâu sô-cô-la đậm ấn tượng mà còn nhờ thành phần hóa học độc đáo, giàu các nguyên tố đất hiếm (REE) và các nguyên tố khác thường chỉ tồn tại ở nồng độ vết, chẳng hạn như ceri (thường thấp hơn 90 ppm nhưng ở mẫu này lên tới 463±14 ppm).

Nguồn GIA